Quang cao giua trang
NGÀY TRUYỀN GIÁO CỦA BÀ MẸ BUÔN GÁNH BÁN BƯNG (Khánh Nhật Truyền Giáo 2017)

NGÀY TRUYỀN GIÁO CỦA BÀ MẸ BUÔN GÁNH BÁN BƯNG (Khánh Nhật Truyền Giáo 2017)

Chúa ơi, Chúa Nhật tuần trước con đã nge thông báo : “Chúa Nhật tuần nầy, Ngày Truyền Giáo thường niên”. Đời như con, quanh năm suốt tháng triền miên, Buôn gánh bán bưng, biết gì đâu truyền giáo !

Xem tiếp...

CÁC BÀI TẬP HUẤN DÀNH CHO GIÁO LÝ VIÊN

Đăng lúc: Thứ sáu - 10/10/2014 07:42 - Người đăng bài viết: quangngaicatholic
TẬP HUẤN GIÁO LÝ VIÊN
_____________________________________ 
 
BÀI 1 : CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO CỦA HỘI THÁNH
VỀ VIỆC DẠY GIÁO LÝ
__________________    

 
 
 
A. Những nguyên tắc chỉ đạo cơ bản :
 
          Trước hết, ai trong chúng ta cũng thừa biết rằng : tác vụ dạy giáo lý không phải là một “nghiệp dư” của người ki-tô hữu; mà là một ơn gọi, một sứ mệnh cao cả bắt nguồn từ sứ mệnh của chính Chúa Ki-Tô, của Hội Thánh : sứ mệnh “Loan Tin Mừng”, sứ mệnh “Ngôn sứ”. (Ga 20,21; Mc 16,15).
          Vâng lệnh Đức Ki-tô, cộng đoàn Dân Chúa đã thi hành sứ mệnh nầy cách tuyệt vời suốt 2000 năm nay. Có lẽ, một trong những điều đáng tự hào nhất về Hội Thánh, về Đạo của chúng ta, xét về phương diện loài người, phải chăng đó chính là “kinh nghiệm giảng dạy”. Chính vì thế, nếu chúng ta muốn thực hiện hoàn chỉnh sứ mệnh nầy, hay cụ thể, muốn thực hiện tốt và “đạt yêu cầu” công tác mục vụ huấn giáo, việc dạy giáo lý, thì chúng ta phải nắm vững những nguyên tắc cơ bản hướng dẫn Hội Thánh thực hiện “Thừa tác vụ Lời Chúa” của mình; đó cũng là những nguyên tắc Hội Thánh muốn chúng ta ân cần thực hiện.
          Tuy nhiên, có một điều chúng ta cũng nên ghi nhận đó là những nguyên tắc mà chúng ta cùng tìm hiểu sau đây không phải đã hiển hiện rõ nét ngay từ buổi đầu của Hội Thánh, mặc dù đã thực sự phát sinh từ thuở ấy. Có thể nói được rằng đây là kết quả của cả một hành trình nhiêu khê trải dài suốt 20 thế kỷ. Tuy nhiên, xét về thời điểm lịch sử, những nguyên tắc nầy chính là kết quả của trào lưu canh tân huấn giáo trong thế kỷ 20 và nhất là của những giáo huấn căn bản của Công Đồng Vatican II, một Công đồng được mệnh danh là “Công đồng mục vụ”.
 
I. NGUYÊN TẮC 1 : CHỦ ĐÍCH (Dạy giáo lý để làm gì)
                  
          Sở dĩ đặt “CHỦ ĐÍCH” làm nguyên tắc chỉ đạo số 1, vì đây chính là kết quả quan trọng có tính quyết định của việc canh tân huấn giáo của Hội Thánh; đúng hơn, đây chính là sự trở về nguồn đích thực trong cuộc hành trình sống, làm chứng và loan báo đức tin của Dân Chúa. Qua các văn kiện Huấn quyền, chúng ta có thể đọc thấy những điểm chính yếu sau đây trong nguyên tắc chủ đích hướng dẫn việc dạy giáo lý :
 
          1/. Dạy giáo lý là để đưa người tín hữu gặp gỡ và hiệp thông với Đức Ki-tô và qua Đức Ki-tô, gặp gỡ và hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
          “Mục đích tối hậu của khoa dạy giáo lý là làm cho một người không những tiếp xúc nhưng còn thông hiệp thân mật với Đức Giê-su Ki-tô. Chỉ một mình Người có thể đưa ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Thần Khí và làm cho ta tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh” (DGL số 5)
          2/. Dạy giáo lý là để giúp người tín hữu trưởng thành         trong đời sống đức tin. Nói cách khác, đó là sự huấn luyện           đời sống tin cậy mến, đời sống phụng vụ và cầu nguyện, đời sống với lương tâm ngay thẳng…
          “Mục đích đặc biệt của việc dạy giáo lý chính là, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, làm phát triển đức tin còn thơ ấu, thăng tiến đến mức độ viên mãn và nuôi dưỡng hằng ngày đời sống Ki-tô của các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi” (DGL 20).
          “Vì thế, dạy giáo lý là phải giúp con người trong suốt đời sống được bước vào và tiến triển trong đời sống đức tin, cho tới khi sự thật mặc khải được giải thích đầy đủ và được áp dụng vào đời sống” (SHDGLTQ số 20).
          “Vì vậy, dạy giáo lý là phải giúp cho người ta tham gia phụng vụ cách sống động, ý thức và chân chính” (SHDGLTQ 25).
          “Vì thế, dạy giáo lý là phải dạy cho người ki-tô hữu biết suy gẫm Lời Chúa và cầu nguyện riêng” (SHDGLTQ 25).
 
          3/. Dạy giáo lý là để hướng người tín hữu tới cuộc sống chứng nhân giữa lòng xã hội.
          “Tựu trung, việc dạy giáo lý là cần thiết không những để làm cho đức tin của các tín hữu thêm chín chắn, mà còn để họ làm chứng trên thế giới : việc dạy giáo lý nhằm đưa người các ki-tô hữu đến chỗ “chỉ còn một khối trong đức tin và trong sự hiểu biết con Thiên Chúa và đến chỗ làm thành con người hoàn hảo, đúng tuổi, thực hiện Đức Ki-tô cách sung mãn” (Ep 4,13); việc dạy giáo lý còn muốn làm cho họ sẵn sàng biện minh niềm hy vọng của mình trước mặt kẻ đòi hỏi họ làm việc đó” (Pr 3,15)
          “Một trong những vai trò chính yếu của huấn giáo ngày nay là khơi dậy và khuyến khích những phương hướng dấn thân mới, vừa nghiêm túc, vừa hữu hiệu, nhất là trong lãnh vực công lý. Như vậy, kinh nghiệm của ki-tô hữu sẽ sáng tạo nhiều đường lối mới để sống Phúc âm. Nhờ ơn Đức Ki-tô, những đường lối đó sẽ đem lại nhiều kết quả mới để thánh hoá Dân Chúa”
(Sứ điệp của Đại hội Giám Mục thế giới 1997 số 10.Xem thêm các văn kiện CĐ Vat.II : L.G 12; G.S 43; A.A 6; A.G 11-12)
 
II. NGUYÊN TẮC 2 : NỘI DUNG (Dạy giáo lý là dạy gì)
 
          Nắm vững chủ đích của việc dạy giáo lý chưa phải là đã giải quyết toàn bộ vấn đề. Điều quan trọng và cũng là nguyên tắc chỉ đạo thứ hai mà Hội Thánh ân cần và không ngừng kêu gọi chúng ta quan tâm thực hiện đó là : phải dạy giáo lý làm sao cho đúng cái NỘI DUNG CHÍNH YẾU như Hội Thánh truyền dạy. Sau đây là những điểm cốt yếu trong nguyên tắc nội dung nầy.
          1. Nội dung giáo lý phải đặt trọng tâm vào mầu nhiệm Chúa Ki-tô, mầu nhiệm Ba ngôi.
          “Đối tượng cốt yếu và nguyên thuỷ của khoa dạy giáo lý, theo diển ngữ mà Thánh Phao-lô và thần học hiện nay ưa thích, là “MẦU NHIỆM ĐỨC KI-TÔ”. Dạy giáo lý là chẳng khác gì dẫn đưa người ta đến chỗ dò thấu mầu nhiệm ấy trong mọi chiều kích” (DGL 5).
          Trước hết, người ta muốn nhấn mạnh rằng ở trọng tâm khoa dạy giáo lý, cốt yếu có một Ngôi Vị, tức là Ngôi Vị của Đức Giê-su người Na-da-rét, “Con một tự nơi Cha, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật” (DGL 5).
          Mối bận tâm thường xuyên của mọi giáo lý viên, bất luận cấp bậc trách nhiệm của họ trong Giáo Hội như thế nào, phải là thông truyền giáo lý và đời sống của Đức Giê-su…” (DGL 6).
          “Noi gương Thánh sử Lu-ca, người có nhiệm vụ giảng dạy, trước tiên phải nhắc lại biến cố Đức Giê-su cho các tín hữu, phải cho họ thấy ý nghĩa của biến cố đó, phải tìm hiểu sâu xa hơn mãi sự kiện độc đáo và không bao giờ tái diễn đó” (SHDGLTQ 12,40).
          “Cũng như Đức Ki-tô là trọng tâm của lịch sử cứu rỗi thì mầu nhiệm Thiên Chúa là trọng tâm làm nguồn gốc và mục đích cho lịch sử đó. Đức Ki-tô đã chết và sống lại là Đấng dẫn dắt loài người về với Chúa Cha bằng cách phái Chúa Thánh Thần đến cùng Dân Chúa. Vì thế, cơ cấu của toàn thể nội dung giáo lý phải là qui về Thiên Chúa Ba Ngôi : nhờ Đức Ki-tô, đến cùng Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần” (SHDGLTQ 41).
          2. Nội dung giáo lý phải mang tính nhất thống, toàn vẹn và tương quan mật thiết của “LỊCH SỬ CỨU RỖI”.
          “Vì thế, đối tượng của giáo lý là mầu nhiệm và các việc của Thiên Chúa, tức là các việc Ngài đã và sẽ làm vì loài người chúng ta. Tất cả những điều đó đều liên hệ xứng hợp và mật thiết với nhau và làm thành chương trình cứu rỗi. Dạy giáo lý mà không để ý đến sự liên kết và hoà hợp đó của nội dung giáo lý, thì không thể nào đạt tới mục đích của mình” (SHDGLTQ 39).
          “Chương trình cứu rỗi được thực hiện trong thời gian, chương trình ấy đã khởi sự trong quá khứ, đã diễn tiến và đạt tới tuyệt đỉnh trong Đức Ki-tô, chương trình ấy đang phơi bày sức mạnh của nó trong hiện tại và đợi ngày hoàn tất trong tương lai. Vì thế, khi trình bày nội dung giáo lý, phải nêu rõ sự tưởng nhớ đến quá khứ, sự ý thức về hiện tại và niềm hy vọng về tương lai” (SHDGLTQ 44).
          “Để tiến lễ của đức tin được hoàn toàn, người trở nên môn đệ của Đức Ki-tô có quyền đón nghe “Lời đức tin” (Rm 10,8), không bị cắt xén, biến tạo, giảm bớt, nhưng đầy đủ và toàn vẹn, nghiêm túc và có uy lực” (DGL 30tt).
          3. Nội dung giáo lý phải được phát sinh, múc lấy từ nguồn mạch LỜI CHÚA và được triển khai từ kho tàng đó.
          “Việc dạy giáo lý bao giờ cũng lấy nội dung ở nguồn mạch sống động là Lời Chúa thông truyền trong Thánh Truyền và Thánh Kinh” (DGL 27).
          “Trong việc dạy giáo lý, Lời Chúa hiện diện nhờ lời nói của con người. Vậy để sinh hoa kết quả trong con người, để tạo nên những tâm tình khiến con người loại bỏ lòng lãnh đạm hoặc bất định mà đem lòng tin Chúa, người dạy giáo lý phải diễn tả Lời Chúa cách trung thành và trình bày Lời Chúa cách thích hợp. Ngoài ra, để việc dạy giáo lý có hiệu lực, cần nhất là người dạy giáo lý và cộng đoàn ki-tô hữu phải nêu lên chứng tá bằng đời sống” (SHDGLTQ 32, 45).
          “Thánh kinh phân phát cách bất di bất dịch Lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các tiên tri và các Tông đồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Hội Thánh, cũng như chính đạo thánh Chúa Ki-tô, phải được Thánh Kinh nuôi sống và hướng dẫn” (Hiến chế D.V 21).
 
III. NGUYÊN TẮC 3 : PHƯƠNG PHÁP (Dạy giáo lý cách nào)
 
          Khi nói tới nguyên tắc chỉ đạo về phương pháp, chúng ta có thể hiểu : Phương pháp xét như là cách thực hiện việc dạy giáo lý nói chung, hoặc phương pháp xét như là cách tổ chức chương trình giáo lý, hay phương pháp xét như là cách triển khai bài giáo lý, và sau cùng, phương pháp xét như  là cách chuẩn bị nơi bản thân người dạy giáo lý. Trong nguyên tắc chỉ đạo nầy, có 3 yếu tố chính cần ghi nhận :
          1. Việc dạy giáo lý phải được canh tân liên tục, phải được tổ chức có hệ thống.
          “Sau hết, việc dạy giáo lý cần được canh tân liên tục về phương diện nới rộng phần nào chính khái niệm ấy, về phương pháp, về việc tìm kiếm một ngôn ngữ thích hợp, về việc khai thác các phương tiện mới mẻ để truyền thông sứ điệp” (DGL 17).
          “Thói quen đưa đến sự trì trệ, sự uể oải, và rốt cuộc đến sự tê liệt. Cách làm việc tuỳ hứng gây ra sự lộn xộn nơi các người học giáo lý và phụ huynh của họ, trong trường hợp các trẻ nhỏ, gây ra mọi thứ lệch lạc, sự nứt rạn, và cuối cùng sự sụp đổ hoàn toàn của tính thống nhất…” (DGL 17).
          “Giảng dạy không phải tuỳ hứng, thiếu sửa soạn, nhưng là giảng dạy có hệ thống, theo một chương trình, khả dĩ giúp đi tới một mục đích rõ rệt…” (DGL 21)
          2. Việc dạy giáo lý phải được áp dụng các phương pháp sư phạm có hiệu quả.

 
  1. Phương pháp qui nạp được dùng ưu tiên : “Phương pháp được gọi là qui nạp là một phương pháp rất hữu ích. Phương pháp đó là trình bày các sự kiện (như biến cố trong Thánh Kinh, các việc Phụng vụ, đời sống Hội Thánh và đời sống thường ngày…), quan sát chăm chú các sự kiện đó để tìm thấy chúng có ý nghĩa gì trong mầu nhiệm Ki-tô giáo…Phương pháp qui nạp đã không loại trừ mà còn đòi hỏi phải có phương pháp diễn dịch…”
  2. Tìm một ngôn ngữ thích hợp : “Thật vậy, khoa dạy giáo lý có bổn phận thiết yếu phải tìm ngôn ngữ thích hợp với trẻ nhỏ và thanh niên thời ta nói chung và cho rất nhiều lớp người khác…” (DGL 59).
  3. Vận dụng chính khoa sư phạm đặc thù của đức tin : “Nhưng trong suốt lịch sử thánh và nhất là trong Tin Mừng, chính Thiên Chúa đã dùng một khoa sư phạm mà khoa sư phạm nầy phải là kiểu mẫu cho việc giáo dục đức tin” (DGL 58).
          3. Việc dạy giáo lý phải được chuẩn bị và thể hiện trong tư cách “chứng nhân” của người giáo lý viên.
          “Không có phương pháp nào, dù là một phương pháp đã được sử dụng và tỏ ra có nhiều hiệu quả, có thể chuẩn miễn cho người dạy giáo lý khỏi phải tìm hiểu và xét đoán các hoàn cảnh cụ thể để thích nghi phần nào cho hợp với những hoàn cảnh đó. Có kết quả hay không là do tư cách người dạy giáo lý, xét về mặt con người và là ki-tô hữu, hơn là do phương pháp được chọn. Công khó của người dạy giáo lý phải được coi là việc quan trọng hơn là việc chọn sách và chọn các phương tiện khác” (SHDGLTQ 71; A.G 17).
          “Chỉ trong sự thông hiệp sâu xa với Ngài, các giáo lý viên mới tìm thấy ánh sáng và sức mạnh cho việc canh tân chân chính công cuộc dạy giáo lý mà chúng ta mong ước” (DGL 9).
          “Sau hết, việc dạy giáo lý đòi hỏi người dạy cũng như toàn thể cộng đoàn ki-tô hữu phải làm chứng đức tin và đồng thời phải nêu gương chân chính trong đời sống ki-tô hữu và phải có tinh thần hy sinh” (SHDGLTQ 35).
 
B. Đề nghị vài áp dụng cụ thể :
 
          1. Xác lập vị trí đúng đắn của sinh hoạt giáo lý trong toàn bộ mục vụ của giáo xứ : Nếu việc dạy giáo lý là việc huấn luyện đức tin, thì chúng ta không thể coi đây chỉ là sinh hoạt bên lề, hay tệ hơn nữa, như một sinh hoạt phụ tùy so với các sinh hoạt khác trong giáo xứ. Chính vì thế, mục vụ giáo lý của giáo xứ phải được mọi thành phần dân Chúa quan tâm, chứ không phải chỉ là chuyện riêng của cha sở, cha phó hay của một số người nào đó. Nhất là sự quan tâm này phải biến thành hành động cụ thể chứ không dừng lại trên bình diện ý thức hay lời nói suông.
          2. Những người chuyên trách : ý thức và thực hiện nghiêm chỉnh sứ mệnh : Nếu việc dạy giáo lý là một sứ mệnh cao cả, thì tất cả những ai được mời gọi tham gia thực hiện sứ mệnh nầy phải đánh giá thật cao, phải trân trọng ơn gọi nầy, và cố hết sức chu toàn sứ mệnh và trách nhiệm với tất cả nhiệt thành, khiêm tốn và niềm vui. Cần loại bỏ thái độ nhận trách nhiệm cách “bất đắc dĩ”, nhưng luôn trang bị một tinh thần tông đồ với ý thức và can đảm dấn thân. Tinh thần đó sẽ là động lực giúp không ngừng phát triển đời sống gặp gỡ Chúa Ki-tô, sự cần mẫn trau dồi kỷ năng truyền dạy, vốn liếng Lời Chúa, các phưưong pháp sư phạm; nhất là trau dồi lòng đạo đức, đời sống phụng vụ, cầu nguyện, chứng nhân…
          3. Một phương án mục vụ giáo lý thích hợp : Vì sinh hoạt mục vụ giáo lý là sinh hoạt chính yếu của Hội Thánh, do đó, phải có một phương án mục vụ thích hợp và khả thi, vừa mang chiều kích “Tông truyền”, vừa có tính “Công giáo”. Điều đó có nghĩa là cần phải có một nỗ lực để tiến tới một phương án tổ chức mục vụ giáo lý đồng bộ và thống nhất với định hướng chung của Giáo Hội, ít ra là với những yếu tố cơ bản. Đồng thời phải liên hệ và hội nhập với bối cảnh mục vụ tại chỗ. Tốt nhất là mỗi năm, mỗi niên khoá, giáo xứ cần có một phương án mục vụ giáo lý thích hợp, đáp ứng các yêu cầu sống đạo và huấn luyện đức tin cho cộng đoàn.
          4. Tập chú đào tạo giáo lý viên giáo dân, trao trách nhiệm dạy giáo lý cho các gia đình : Sứ mệnh dạy giáo lý được trao cho mọi người trong Hội Thánh, không trừ ai. Do đó, một mặt phải có chương trình đào tạo giáo lý viên giáo dân, mặt khác cần gây ý thức và tạo điều kiện để tiến tới việc dạy giáo lý thường xuyên trong mọi gia đình. Mục vụ giáo lý và mục vụ gia đình phải được thực hiện song song và liên hệ hổ tương mật thiết.
          5. Lưu tâm đặc biệt tới các phần tử, cộng đoàn thiếu điều kiện sinh hoạt giáo lý : Đó là những cộng đoàn, giáo điểm xa xôi, hẻo lánh, những vùng kinh tế mới, những nhóm gia đình vùng sâu, vùng xa, những nhóm công nhân, học sinh, sinh viên…Cần lưu ý đặc biệt đến những trẻ em thất học, những người dốt chữ và cả những gia đình đang bị rối rắm hoặc nguội lạnh.
          6. Kiện toàn việc tổ chức và điều hành : Để chỉ đạo và điều hành, thông tin và phối trí sinh hoạt giáo lý có hiệu quả, cần thiết phải có một “Ban Điều Hành và phối hợp mục vụ giáo lý” trong giáo xứ. Tiểu ban mục vụ nầy không là một tổ chức biệt lập của riêng các giáo lý viên, nhưng là một cơ cấu mục vụ trực thuộc Tổ chức và điều hành chung của Hội đồng mục vụ giáo xứ. Nói cách khác, đây là một tiểu ban mục vụ trực thuộc Hội Đồng Giáo Xứ chuyên trách về sinh hoạt huấn giáo. Chính vì thế Hội đồng mục vụ, hội đồng giáo xứ (hay Ban Hành Giáo) phải quan tâm và thường xuyên nắm bắt các sinh hoạt mục vụ huấn giáo trong giáo xứ thông qua ban điều hành nầy.
 
BÀI 2 : VÀI ĐIỂM KHÁI QUÁT VỀ SƯ PHẠM GIÁO LÝ
(Tài liệu hướng dẫn giáo lý viên) (1)
 
A. VAI TRÒ CỦA GIÁO LÝ VIÊN TRONG HỘI THÁNH
 
          I. Sứ mạng của Hội Thánh
          Sứ mạng quan trọng nhất thuộc yếu tính của Hội Thánh là sứ mang truyền giáo. Sứ mạng bắt nguồn từ huấn lệnh sau cùng của Đức Giê-su : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19-20).
          Hội Thánh rất xem trọng lệnh truyền ấy. Các Đức Giáo Hoàng đã cổ vũ mọi thành phần Dân Chúa tích cực tham gia để hoàn thành sứ mạng của mình :

 
  1. ĐGH Phaolô VI đã ra một tông huấn thúc bách Hội Thánh phải ý thức loan báo Tin Mừng cho con người thời đại chúng ta.
  2. ĐGH Gioan-Phalô II trong tông huấn Cathechesi Tradendae đã viết : “Việc truyền đạt giáo lý được Hội Thánh coi là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng của mình” (số 1), “một bổn phận thiêng liêng” (số 14).
          II. Giáo lý viên tham gia vào sứ mạng của Hội Thánh
          1. Vai trò của giáo dân trong Hội Thánh :
          Giáo dân là thành phần đông đảo nhất, đa dạng nhất, hiện diện giữa mọi môi trường sống. Vì thế, giáo dân đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Hội Thánh và thực hiện sứ mạng của Hội Thánh : Loan Tin Mừng, để mọi người có thể đạt được ơn cứu độ.
          2. Vai trò của giáo lý viên trong Hội Thánh :
          Dạy giáo lý là một giai đoạn của việc loan báo Tin Mừng. Cho nên, giáo lý viên cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thực thi sứ mạng của Hội Thánh. Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II trong tông huấn Catechesi tradendae đã dạy rằng :

 
  • Giáo lý viên là những người cần thiết cho Hội Thánh.
  • Giáo lý viên là những người gắn bó mật thiết với đời sống Hội Thánh và xây dựng Hội Thánh thật sự.
  • Giáo lý viên là những người đang làm công tác tông đồ và truyền giáo.
 
B. MỘT VÀI  YÊU CẦU GIÁO LÝ VIÊN CẦN HƯỚNG TỚI
          I. Những yêu cầu căn bản giáo lý viên cần hướng tới :
1. Một đức tin sống động, một đời sống thiêng liêng sâu sắc :
          Chỉ có những ai có đức tin sâu sắc mới có thể giáo dục đức tin. Chỉ có những ai có kinh nghiệm về một cuộc sống kết hợp thân mật với Thiên Chúa mới có thể đưa người khác tới Thiên Chúa. Vì vậy, giáo lý viên phải có một đời sống cầu nguyện sâu xa, tham dự các bí tích cách siêng năng và sốt sắng, chuyên chăm học hỏi và suy gẫm Lời Chúa. Sống Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến cách sâu xa để trở thành một chứng nhân đích thực của Chúa Giê-su.
2. Một căn bản giáo lý vững chắc :
- Cần nắm vững nội dung giáo lý mà mình giảng dạy, đồng thời cũng nắm bắt toàn bộ chương trình và định hướng giáo lý.
- Cần không ngừng học hỏi, đồng thời tích cực tham gia các khóa bồi dưỡng giáo lý. Phải trở nên những học viên khiêm nhường trong trường học của Chúa và Hội Thánh.
3. Cần hiểu biết tâm lý học viên và phương pháp sư phạm :
          Để cho việc dạy giáo lý đạt hiệu quả, cần phải biết tâm lý của đối tượng mà mình phụ trách; biết những phương cách hữu hiệu để truyền giảng đạo lý; biết rút những kinh nghiệm và học hỏi kinh nghiệm của người khác.
4. Yêu mến Chúa và học viên :
          Lòng yêu mến học viên làm cho công cuộc giáo dục của giáo lý viên đạt hiệu quả cao và lâu bền; đồng thời đó cũng là lời chứng sống động cho những gì mình rao giảng. Vì dạy giáo lý là nói với học viên chân lý căn bản nầy : Thiên Chúa yêu thương họ và đề nghị họ yêu thương Thiên Chúa và yêu thương nhau
5. Tinh thần liên đới :
          Khi giáo lý viên có tinh thần và sống liên đới với mọi thành phần trong cộng đoàn, thì họ có thể dễ dàng sử dụng sức mạnh tổng hợp để giáo dục các em. Đặc biệt phải có tinh thần đoàn kết, nâng đỡ nhau giữa các giáo lý viên.
 
          II. Linh đạo của giáo lý viên.
          Để đạt được những yêu cầu trên, giáo lý viên cần được đào tạo và tự huấn luyện để :
1. Say mê Đức Ki-tô :
          Vì mục đích của việc dạy giáo lý : Làm cho các em tiếp xúc thân mật với Đức Ki-tô để chính Ngài đưa các em vào tình yêu của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
2. Say mê Lời Chúa :
          Vì dạy giáo lý là việc làm phát triển hiểu biết mầu nhiệm Đức Ki-tô dưới ánh sáng Lời Chúa.
3. Say mê các linh hồn :
          Có say mê các linh hồn, giáo lý viên mới nổ lực về mọi mặt nhằm hoàn thành sứ mạng phục vụ các linh hồn.
4. Say mê sống tác vụ ngôn sứ :
          Hơn bất cứ giáo dân nào khác, giáo lý viên trực tiếp tham gia tác vụ ngôn sứ của Chúa Ki-tô
5. Say mê sống theo Thánh Thần :
          Thánh Thần là Thầy nội tâm, sẽ biến đổi giáo lý viên thành dụng cụ sắc bén của Ngài và thành “nhân chứng của Đức Ki-tô”.
6. Say mê Hội Thánh :
          Giáo lý viên phải rao truyền những gì Hội Thánh rao truyền cách trung thành, góp phần xây dựng Hội Thánh và mở mang Nước Chúa.
 
C. LỘ TRÌNH CỦA MỘT BÀI GIÁO LÝ THIẾU NHI
 
          I. Trước giờ dạy giáo lý :
1. Tìm hiểu môi trường sống của các em :
          - Tìm hiểu gia đình các em, thăm viếng phụ huynh…
          - Tìm hiểu những gì các em học ở trường.
          - Tìm hiểu bạn bè các em.
          - Tìm hiểu những gì đang tác động đến các em.
2. Sống Lời Chúa và dọn bài :
          - Suy niệm : Cần suy gẫm và sống Lời Chúa mà mình sẽ thông truyền cho các em.
          - Nắm toàn bộ chương trình : Cần nắm chương trình của cả năm học mà ta phụ trách, đồng thời cũng nên nắm toàn bộ chương trình giáo lý.
          - Xác định ý chính : Xác định dâu là trọng tâm của bài học (bao gồm hai yếu tố chính : chân lý để hiểu, chân lý để sống), không ôm đồm, tãn mạn.
          - Tâm tình : Qua việc chuẩn bị bài, ta có tâm tình gì, và hướng các em có tâm tình gì.
          - Chuẩn bị dụng cụ trực quan phục vụ cho bài học. Không chờ đến giờ dạy mới đi tìm dụng cụ.
          - Soạn giáo án : Trong giáo án có thể ghi những điều sau :

 
  1. Ngày, tháng, năm soạn bài và ngày dạy.
  2. Nội dung những điều sẽ trình bày.
  3. Trích đoạn Lời Chúa.
  4. Ý chính.
  5. Tâm tình.
  6. Những câu chuyện dẫn chứng hoặc những hình ảnh minh họa.
  7. Hệ thống câu hỏi để xây dựng bài.
  8. Ý cầu nguyện.
  9. Phần tóm tắt.
  10. Câu hỏi kiểm tra và bài làm ở nhà.
  11. Căn dăn cho tuần tới.
  12. Sau cùng, nên để trống một phần để ghi lại những kinh nghiệm ta rút ra được sau khi lên lớp.
 
          II. Trong giờ giáo lý
1. Đón tiếp các em :
    - Nên đến trước 10-15 phút để chuẩn bị phòng học và đồ dùng trực quan.
    - Gặp gỡ chuyện trò với các em.
    - Tạo bầu khí thân ái, từ từ nhẹ nhàng đi vào bầu khí trang nghiêm bằng việc cầu nguyện khai mạc (Kinh, hát, Lời Chúa…)
2. Dẫn khởi :
    - Dẫn khởi bằng 1 tích truyện Lời Chúa, hạnh các thánh, biến cố mục vụ…
    - Chia sẻ kinh nghiệm sống của giáo lý viên hay của các em hoặc của người khác…
    - Việc chia sẻ kinh nghiệm sống nầy cần cô đọng, gọn nhẹ.
3. Công bố Lời Chúa :
    - Chọn Lời Chúa sát trọng tâm của bài học.
    - Phải hết sức nghiêm trang, kính cẩn, tạo bầu khí sốt sắng.
        - Công bố cách đơn sơ, chân thành, không thêm bớt, nhẹ nhàng, thong thả, truyền cảm.
4. Diễn giải Lời Chúa, triển khai giáo lý :
    - Phải hết sức khiêm tốn để cho Chúa dùng trí khôn, tâm tình của mình mà tỏ ra cho các em ý muốn của Ngài.
         - Nói bằng lời lẽ đơn sơ, phù hợp với đối tượng, chỉ nói điều phải nói, không khoác lác, ba hoa.
          - Nên dùng dụng cụ trực quan để minh hoạ. Nhưng phải chọn lựa kỹ càng : đẹp, hợp sự thật; và phải được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ.
5. Gặp gỡ Chúa, cầu nguyện :
        - Đây là cao điểm của giờ giáo lý : Ý chính trọng tâm cũng như tâm tình của bài phải được bộc lộ rõ ràng lúc nầy, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ thân mật hỗ tương giữa Chúa và các em.
    - Cầu nguyện ở đây có thể :
Sự im lặng chân thành của các em.
        Bằng tâm tình sốt sắng của giáo lý viên biểu hiện qua lời nguyện hướng dẫn các em cầu nguyện theo.
Bằng 1 lời nguyện tắt, 1 kinh ngắn, một bài hát thích hợp…
6. Thấm nhuần Lời Chúa, giáo lý (Sinh hoạt giáo lý) :
          Đây là lúc đáp lại Lời Chúa và làm cho Lời Chúa thấm nhập. Có thể dùng các hình thức sau :
   * Đề nghị các em trả lời một số câu hỏi đơn sơ. Việc làm nầy không chỉ trên “giấy” hay ngoài môi miệng, mà nhất là “trong tim” các em, trong đời sống các em.
* Qua hình thức vẽ hay viết ra tâm tình của mình, quyết tâm của mình.
* Qua cử điệu, hoạt cảnh, cử hành, hát, băng reo, hội thảo…
Có rất nhiều hình thức sinh hoạt giáo lý. Giáo lý viên tuỳ hoàn cảnh, đối tượng và điều kiện cho phép mà chọn hình thức nào cho phù hợp.
7. Đáp lại Lời Chúa : quyết tâm.
          Chủ dích của việc học giáo lý đó là để sống, để gặp gỡ và yêu mến Chúa, để trưởng thành trong đức tin; chứ không đơn thuần chỉ để hiểu một số chân lý. Vì vậy, các em cần có quyết tâm để sống Lời Chúa, để áp dụng bài học giáo lý vào đời sống cụ thể.
8. Khắc ghi Lời Chúa, bài học :
    Cho ghi những điều các em cần học thuộc, hoặc giúp các em học thuộc lòng tại chỗ (nhất là các lớp ấu nhi).

 
  • Câu Lời Chúa.
  • Các câu tóm giáo lý (tùy tuổi mà có cách ghi phù ghợp).
 
          III. Sau giờ giáo lý
          Giáo lý viên cùng cọng tác và động viên gia đình, giáo xứ, hội đoàn…giúp các em sống Lời Chúa.
 
          Kết luận : Giáo lý viên cần ý thức :

 
  • Giờ giáo lý phải được coi như  “giờ á phụng vụ”.
  • Giờ giáo lý là giờ Chúa gặp con cái Ngài.
  • Phải cọng tác với Chúa.
  • Giáo lý viên phải cầu nguyện với Chúa cho việc giảng dạy của mình và cho các em.
  • Sau khi đã làm hết sức mình ta hãy nói : “Lạy Chúa, con chỉ là tôi tớ vô dụng”, và phó thác mọi sự trong tay Chúa.
 
D. CHÚA GIÊ-SU THẦY DẠY CỦA GIÁO LÝ VIÊN
          Chúa Giê-su là mẫu người giáo lý viên trọn hảo. Vậy ta phải bắt chước phương pháp giảng dạy của Ngài. Nói đúng hơn, phải bắt chước cuộc đời giảng dạy của Ngài; vì chính đời sống của Chúa Giê-su cũng là cách dạy giáo lý. Chúng ta hãy nhìn một đôi nét sơ lược về phương pháp rao giảng của Chúa Giê-su.
 
          I. Đời sống của Chúa Giê-su
 
          Chúa Giê-su kết hợp với Chúa Cha : Kết hợp làm một với Chúa Cha là điều kiện hàng đầu để dạy giáo lý cho có kết quả. Do đó, người giáo lý viên trước hết phải có đời sống nội tâm sâu xa, kết hợp mật thiết với Chúa.
          Chúa Giê-su thường trích dẫn cựu ước và đồng thời nêu rõ cựu ước nói về Ngài (Lc 24, 25-27). Điều đó cũng nói lên rằng người giáo lý viên luôn phải có một số kiến thức nhất định về giáo lý, Thánh kinh, Phụng vụ… Trước khi dạy giáo lý, giáo lý viên phải nắm vững được bài mình dạy và những vấn đề liên quan. Do đó, việc chuẩn bị kỹ lưỡng bài dạy, giáo án là rất cần thiết.
          Chúa Giê-su chính là Tin Mừng : Chúa Giê-su vừa là sứ điệp, vừa là người loan truyền sứ điệp đó. Do đó, Ngài là một “Tin Mừng sống” được loan báo. Nói cách khác, lời Chúa Giê-su rao giảng  luôn đi đôi với hành động và chính cuộc sống của Người. (X. Lc 11, 1-2 : Về cầu nguyện ; Ga 13, 4-5 : Rửa chân…). Chính đời sống của giáo lý viên góp phần chủ yếu cho kết quả của việc dạy giáo lý.
 
          II. Phương pháp giảng dạy của Chúa Giê-su
 
1. Chúa Giê-su trực tiếp nói với dân chúng :
          Ngài trực tiếp nói với mọi hạng người, Ngài nói bất cứ ở đâu, lợi dụng mọi cơ hội…Muốn nói trực tiếp phải có sự gần gũi. Người giáo lý viên luôn phải có mối liên hệ thân tình với các học viên.
2. Chúa Giê-su áp dụng các phương pháp cách linh động :
          Tuỳ theo hoàn cảnh và số lượng người nghe mà Ngài áp dụng hoặc là “cách đối thoại” (Với Ni-cô-đê-mô, người phụ nữ Sa-ma-ri-a…), hoặc là “cách độc thoại” (Với số đông thính giả). Con đường suy luận mà Ngài thường sử dụng là con đường qui nạp.
3. Chúa Giê-su dùng kiểu nói vừa tầm thính giả (Mc 4,33) :
          Ngài giảng Lời Chúa cho họ tuỳ sức họ nghe và hiểu được. Đối với quần chúng bình dân : Chúa Giê-su dùng kiểu nói cụ thể, đơn sơ bằng những cách thế như :

 
  1. Dựa vào những việc cụ thể, những hiện tượng tự nhiên để giải thích mầu nhiệm Nước Trời : Hạt cải, men, vườn nho, tiệc cưới…
  2. Dùng những kinh nghiệm sống và ngôn ngữ dân gian :
          Lc 6, 43 : Cây tốt sinh trái tốt.
          Lc 8, 16 : Thắp đèn đặt trên giá.
          Mt 24,43 : Đợi chủ về…kẻ trộm đến.
          Lc 13,54 : Mây mọc trời tây, mưa đến nơi.

 
  1. Dùng những biến cố xảy ra : Lc 13, 1-4.
Đối với giới trí thức : Chúa Giê-su sẵn sàng tranh luận, trích dẫn Thánh Kinh để dạy hay phi bác : Lc 20, 27-38 ; Mc 2, 23-26 ; Mt 12, 1-5…Có khi Ngài khéo léo dùng lời lẽ bóng bẩy, tượng trưng như với Ni-cô-đê-mô (Ga 3).
Đối với môn đệ :

 
  1. Chúa Giê-su quan tâm đặc biệt đến việc dạy dỗ các môn đệ. Do đó, Ngài thường cắt nghĩa rõ ràng hơn. Chúa cũng thường dạy riêng cho các môn đệ các mầu nhiệm đặc biệt (mầu nhiệm Đấng Thiên sai sẽ phải chịu khổ nạn…).
  2. Ngài cho các môn đệ đi thực tập, sau đó Ngài uốn nắn.
  3. Điều đáng ghi nhận hơn cả là Chúa Giê-su dạy các ông bằng chính gương sáng cuộc sống Ngài : (Lc 11, 1-2 ; Ga 13, 4-5).
4. Chúa Giê-su có cách trình bày sống động :
 
  1. Dùng các dụ ngôn : gói ghém chân lý trong một câu chuyện và giúp người nghe từ từ khám phá ra chân lý : Lc 10, 29-37.
  2. Nhấn mạnh một giáo huấn :
- Đức kết thành những câu dễ nhớ, súc tích, vắn gọn ;
- Nhắc lại duới nhiều hình thức khác nhau : một chân lý được lặp đi lặp lại nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng lần lặp lại có bổ túc thêm những khía cạnh mới : Ví dụ ba dụ ngôn về lòng thương xót : Chiên lạc, đồng tiền đánh mất, người cha nhan hậu ; Dụ ngôn về khiêm tốn : Người thu thuế và biệt phái, chỗ ngồi ở tiệc cưới, người muốn làm lớn phải hầu hạ.
- Dùng các kiểu nói dễ nhớ :

 
  • Song đối.
  • Song đối đồng nghĩa : Cả hai vế cùng diẽn tả một ý tưởng (Mt 10, 41 ; Lc 12, 48).
  • Song đối phản nghĩa : Vế hai là phản đề của vế một (Mc 2, 27 )
  • Song đối tiệm tiến : Vế hai triển khai hoặc bổ túc vế một (Mt 10, 40 ; Mc 9, 37).
  • Bao hàm : Mở đầu và kết thúc bài diễn từ bằng một câu hoặc bằng một ý tưởng như nhau.
- Dùng kiểu nói độc đáo : Vừa gây ấn tượng, thu hút, vừa biểu lộ uy quyền khiến người nghe phải kinh ngạc (Mt 7, 28 ; Mc 1, 22), như kiểu nói : “Quả thật, quả thật”, hoặc bằng cách mở đầu bằng từ nghi vấn : “Ai”
 
  1. Tiến từng bước theo nhịp độ hiểu biết của người nghe (Tiệm tiến) :
  • Từ tiên tri -> Đấng Cứu Thế -> Con Thiên Chúa.
  • Trong việc mặc khải dần dần Đấng Thiên Sai phải chịu khổ nạn.
  • Cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và dân chúng về “Bánh Hằng Sống” ; giữa Chúa Giê-su và thiếu phụ Sa-ma-ri-a về “Nước Hằng Sống”. Đặc biệt, Chúa Giê-su cảm hoá người khác không chỉ bằng lời giảng dạy mà còn bằng thái độ hiểu biết sâu xa, bằng tình thương chân thật.
 
 
 
 
(1) Bài gợi ý nầy trích trong tập “Tài liệu hướng dẫn giáo lý viên” của Thầy Anrê Đoàn Văn Điểm.
 
PHỤ LỤC : HÀNH TRANG CỦA GIÁO LÝ VIÊN HÔM NAY
 
1. Mười đức tính nhân bản cần có khi thi hành tác vụ dạy giáo lý : (Theo gợi ý của tác phẩm : Lớn Lên trong trái tim của mẹ. Tác giả : Bùi Xuân Lộc. NXB trẻ 2005)

 
  1. “Ngủ được khi trời giông bảo” (Sắp sẵn)
  2. “Ta phải giữ cậu ấy lại” (Cảm hóa bằng lòng bao dung)
  3. “Người nghệ sĩ và chiếc vĩ cầm ba dây” (Cố gắng hết mình trong cái đang có)
  4. “Những vòng tròn nước trên mặt hồ” (Tỏa sáng điều thiện ra chung quanh)
  5. “Hai bảo bối của quỉ Sa-Tăng: Mất niềm tin-Hèn nhát” (Niềm tin - lòng dũng cảm)
  6. “Nhưng không phải chuyện quả dưa hấu” (Kiên nhẫn không nóng vội)
  7. “Khi ông Thị Trưởng Fiorello Lagardia tuyên án” (Xét xử bằng luật yêu thương)
  8. “Đi tìm người tốt và người xấu” (Hãy giữ đôi mắt của tâm hồn thiện hảo)
  9. “Lần bỏ cuộc của Henry Ward Beecher” (Biết nói ‘Có” với lòng tự tin)
  10. “Đàn sâu chết trên vành chậu” (Luôn biết không ngừng sáng tạo)
 
2. Ba Nhân đức Đối Thần luôn phải cầu xin : Tin, Cậy, Mến.
 
3. Ba cái dũng của Tin Mừng cần luyện tập :

 
  1. Phêrô Đi trên sóng đến với Thầy  (Mt 14,28-33)
  2. Maria đập bể bình dầu quí xức chân Thầy (Ga 12, 1-11)
  3. Gioan đứng bên Thập giá lãnh nhận lời trăn trối của Thầy. (Ga 19,25-27)
____________________________
 
KINH CỦA GIÁO LÝ VIÊN
 
Lạy Chúa Giêsu là Chúa và là Thầy chúng con /Chúa đã đến để mạc khải cho chúng con mầu nhiệm Nước Trời / và đã thương cho chúng con được dự phần vào sứ mạng rao giảng các mầu nhiệm ấy./Xin Chúa thương ban cho chúng con / và cho các anh chị em giáo lý viên / Thánh Thần, Tình yêu và Chân lý / để chúng con luôn kết hiệp với Chúa / và được Chúa dạy dỗ./ Xin cho chúng con biết can đảm dạy điều chúng con tin /và quảng đại thực hành điều chúng con dạy./  Xin ban cho chúng con ánh sáng và tình yêu / để chúng con trình bày Lời Chúa thật sáng sủa và sống động / Xin cho chúng con biết quan tâm tới từng học viên mà Chúa đã trao phó cho chúng con/ để chúng con luôn biết yêu thương, cầu nguyện và đua họ đến với Chúa./ Xin Chúa cũng mở rộng lòng các học viên của chúng con/ để họ ra sức học hiểu Lời Chúa và biết đem ra thực hành. / Xin Chúa cũng thương đến gia đình họ / làm sao cho cha mẹ, biết quí trọng và lo lắng cho phần rỗi của mình và của con cái / biết thúc đẩy mọi người trong gia đình đến với Chúa/  và sống gắn bó với Chúa luôn/. Xin Chúa chúc lành cho chúng con và cho công việc huấn giáo của chúng con. Amen.
 
LỬA HỒNG NGÀN ĐỜI
 
ĐK. Hãy chiếu sáng tâm hồn con ngọn lửa hồng từ ngàn đời là tình yêu Chúa vượt qua đêm tối; và chiếu sáng trên trần gian ngọn lửa hồng từ ngàn đời để tình yêu Chúa cháy lên đốt lòng mọi người.
1. Xin cho con một tình yêu Chúa (Như) ánh sao đêm soi dẫn nẻo về. Vượt tăm tối qua miền ánh sáng, dẫn đưa con thoát khoát khỏi bến mê.
2. Xin cho con một đời yêu Chúa, biết hy sinh quên chính phận mình. Ngày xưa Chúa giáng trần cứu thế, thắp yêu thương sáng hồn thế nhân.

 
 
 
Tác giả bài viết: TĐH
Nguồn tin: quangngaicatholic
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tìm kiếm chọn lọc